Thứ Năm, 30 tháng 6, 2011

What is opportunity cost?


An opportunity cost is defined as the value of a forgone activity or alternative when another item or activity is chosen. Opportunity cost comes into play in any decision that involves a tradeoff between two or more options. It is expressed as the relative cost of one alternative in terms of the next-best alternative. Opportunity cost is an important economic concept that finds application in a wide range of business decisions.

What is opportunity cost?

Opportunity costs are often overlooked in decision making. For example, to define the costs of a college education, a student would probably include such costs as tuition, housing, and books. These expenses are examples of accounting or monetary costs of college, but they by no means provide an all-inclusive list of costs. There are many opportunity costs that have been ignored: (1) wages that could have been earned during the time spent attending class, (2) the value of four years’s job experience give up to go to school, (3) the value of any activities missed in order to allocate time to studying, and (4) the value of items that could have purchased with tuition money or the interest the money could have earned over four years.

These opportunity costs may have significant value even though they may not have a specific monetary value. The decision maker must often subjectively estimate Opportunity costs. If all options were purely financial, the value of all costs would be concrete, such as in the example of a mutual fund investment. If a person invests $10,000 in Mutual Fund ABC for one year, then he forgoes the returns that could have been made on that same $10,000 if it was placed in stock XYZ. If returns were expected to be 17 percent on the stock, then the investor has an opportunity cost of $1,700. The mutual fund may only expect returns of 10 percent ($1,000), so the difference between the two is $700.

This seems easy to evaluate, but what is actually the opportunity cost of placing the money into stock XYZ? The opportunity cost may also include the peace of mind for the investor having his money invested in a professionally managed fund or the sleep lost after watching his stock fall 15 percent in the first market correction while the mutual fund’s losses were minimal. The value of these aspects of opportunity cost are not so easy to quantify. It should also be noted that an alternative is only an opportunity cost if it is a realistic option at that time. If it is not a feasible option, it is not an opportunity cost.

Opportunity-cost evaluation has many practical business applications, because opportunity costs will exist as long as resource scarcity exists. The value of the next-best alternative should be considered when choosing among production possibilities, calculating the cost of capital, analyzing comparative advantages, and even choosing which product to buy or how to spend time. According to Kroll, there are numerous real-world lessons about opportunity costs that managers should learn:
1.      Even though they do not appear on a balance sheet or income statement, opportunity costs are real. By choosing between two courses of action, you assume the cost of the option not taken.
2.      Because opportunity costs frequently relate to future events, they are often difficult to quantify.
3.      Most people will overlook opportunity costs.

Because most finance managers operate on a set budget with predetermined targets, many businesses easily pass over opportunities for growth. Most financial decisions are made without the consultation of operational managers. As a result, operational managers are often convinced by finance departments to avoid pursuing value-maximizing opportunities, assuming that the budget simply will not allow it. Instead, workers slave to achieve target production goals and avoid any changes that might hurt their short-term performance, for which they may be continually evaluated.

People incur opportunity cost with every decision that is made. When you decided to read this article, you gave up all other uses of this time. You may have given up a few minutes of your favorite television program or a phone call to a friend, or you may have even forgone the opportunity to invest or earn money. All possible costs should be considered when making financial or economic decisions, not simply those that can be concretely measured in term of dollars or rates of return.

Dena Waggoner, Reference for Business. Retrieved July 31, 2011, from www.referenceforbusiness.com
Thứ Bảy, 25 tháng 6, 2011

Kinh tế phát triển là gì ?

Kinh tế phát triển là gì?

   

Kinh tế phát triển (Economics of development) là một trong những khoa học kinh tế khám phá và giải thích quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Kinh tế phát triển thể hiện một lĩnh vực nghiên cứu khoa học riêng về mặt lý thuyết và còn đúc kết được nhiều kinh nghiệm từ thực tiễn phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới.
Mục tiêu của Kinh tế phát triển là nhằm cung cấp một cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn trong phát triển kinh tế, để các nước đang phát triển có thể vận dụng vào hoàn cảnh riêng, tìm kiếm được con đường phát triển thích hợp, cải thiện tình trạng chưa tiến bộ của từng quốc gia. 

Môn học Kinh tế phát triển được đưa vào giảng dạy ở các trường đại học trên thế giới từ rất lâu. Riêng Việt Nam, chính thức đưa vào giảng dạy trong các trường đại học khối kinh tế từ năm học 1993-1994. Trải qua nhiều khóa học từ đó đến nay, môn học tỏ ra đã hấp dẫn với các đối tượng học viên khác nhau. Môn học được đánh giá là một mảng kiến thức kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ một nền kinh tế nông nghiệp truyền thống sang nền kinh tế công nghiệp hiện đại. Những thành tựu đạt được trong phát triển kinh tế đã làm ngạc nhiên thế giới và được các tổ chức quốc tế đánh giá cao, như duy trì một tốc độ tăng trưởng cao và ổn định trong thập niên gần đây, tiến bộ liên tục của chỉ số phát triển con người (Human Development Index HDI), xóa bớt đói nghèo, chất lượng cuộc sống của đại bộ phận dân cư trong xã hội được cải thiện, môi trường tự nhiên và môi trường sống của con người được quan tâm gìn giữ. 

Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam còn phải đương đầu với những thách thức đặt ra. Việc lựa chọn được những bước đi thích hợp, nên đẩy mạnh chiến lược phát triển nào, đáp ứng được các mục tiêu nào của phát triển kinh tế bền vững đều là những vấn đề mà có thể được soi rọi từ Kinh tế phát triển

Theo Ts. Đinh Phi Hổ, Ts. Lê Ngọc Uyển, Ths. Lê Thị Thanh Tùng (2009), Kinh tế phát triển: Lý thuyết và thực tiễn, Nhà xuất bản Thống kê, TP. Hồ Chí Minh.

 Kinh tế phát triển là gì?
Thứ Ba, 21 tháng 6, 2011

Kinh tế học : Các thị trường mới nổi thứ hai CIVETS được hiểu là gì?

Có thể bạn sẽ nhầm từ “civets = civet cat” (mèo hương)!

 Khi các nước nhóm họp lại với nhau, vì một mục đích kinh tế hay chính trị nào đó, thì thường họ sẽ có một tên gọi tắt.
Tương tự như BRICs (một thuật ngữ do Goldman Sachs đề xuất năm 2003 để chỉ các thị trường mới nổi: Brazil, Russia, India, China), CIVETS là viết tắt của nhóm các thị trường mới nổi thứ hai gồm Colombia, Indonesia, Vietnam, Egypt (Ai cập), Turkey (Thổ nhĩ kỳ) và South Africa (Nam Mỹ).

 Điểm chung của CIVETS là dân số trẻ và đông, chính trị tương đối ổn định, nền kinh tế đa dạng, hệ thống tài chính khá tốt, và đặc biệt là không bị lạm phát cao, mất cân bằng thương mại và nợ công đe dọa.

Kinh tế học : Các thị trường mới nổi thứ hai CIVETS được hiểu là gì?
Các thị trường mới nổi thứ hai CIVETS


Năm 2010 Dân số   (triệu người) GDP/người     (USD, PPP) CPI   (%) Cán cân ngân sách (%GDP)
Colombia 46.9 8,920 2.6 -3.9
Indonesia 243.0 4,230 5.1 -2.2
Việt Nam 87.8 3,150 9.3 -7.7
Ai Cập 84.7 5,910 11.8 -8.7
Thổ Nhĩ Kỳ 73.3 12,740 8.7 -4.5
Nam Phi 49.1 12,730 5.8 -6.3
 (Nguồn: Economist Intelligence Unit, Country Data)

Vài nét sơ lược:

Colombia
Colombia được biết đến từ những chính sách của cựu tổng thống Alvaro Uribe năm năm trước đó.
Những chính sách của ông đã khuyến khích các công ty tham gia và phát triển nguồn dầu của Colombia. Những đồng đôla tạo ra lại tiếp tục được tái đầu tư cơ sở hạ tầng cho đất nước và tạo công ăn việc làm.

Indonesia
Indonesia có lợi thế từ nhân khẩu, với hơn một nửa dân số là 25 tuổi và thấp hơn, chi phí lao động thấp nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương, theo JP Morgan. Từ năm 2006 – 2009, GDP theo đầu người tăng 11% /năm, điều quan trọng là sự tăng trưởng này là do khu vực tư nhân, chứ không phải do chi tiêu chính phủ.


Kinh tế học : Các thị trường mới nổi thứ hai CIVETS được hiểu là gì?
Indonesia có mức lương thấp nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương
 Việt Nam
Thu nhập bình quân đầu người năm 2009 là 1.064 $ gần gấp 5 lần so với giữa những năm 1990. Ngoài ra, đầu tư ròng về vàng (net retail gold investment) tại Việt Nam, theo Hiệp hội vàng thế giới, vượt quá 500.000 ounces trong quý đầu năm 2010 và tăng 20% nhu cầu vàng trang sức.

Thổ Nhĩ Kỳ
Thổ Nhĩ Kỳ là một nền kinh tế năng động và luôn hướng đến phát triển bền vững.
Là nền kinh tế lớn thứ 6 châu Âu và top 20 toàn thế giới, GDP 2009 là 615 tỷ USD. Kết thúc tháng 3/2010, lạm phát đã giảm 6,1 % so với năm ngoái (xuống còn 1 con số) và nợ công thấp hơn 40% GDP. 
Trong tình hình biến động kinh tế ở châu Âu (thị trường châu Âu chiếm hơn nửa giá trị xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ), chính phủ đã tăng hoạt động giao thương đến các đối tác từ Trung Đông - Ả Rập Saudi, Iraq, Ai Cập.

Xem thêm về thị trường mới nổi (emerging markets) tại: www.usfunds.com/interactive/whats-driving-emerging-markets/?CFID=3579219&CFTOKEN=73297715

 Kinh tế học : Các thị trường mới nổi thứ hai CIVETS được hiểu là gì?
Thứ Năm, 9 tháng 6, 2011

Thế nào là hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong kinh tế lượng (econometrics) ?

Để đơn giản và cũng không mất tính tổng quát, xét mô hình một biến độc lập:
Yi = β1 + β2X2i  + Ui

Giả thiết của phương sai OLS (Ordinary Least Squares) yêu cầu phương sai sai số là đồng nhất
Var (Ui) Ξ σ2  (với mọi i), σ2 là một hằng số dương cố định.
Khi đó, phương sai sai số được gọi là không đổi, hay đồng đều, thuần nhất (homoscedasticity hay homoskedasticity).

Khi giả thiết không được thỏa mãn, phương sai sai số ứng với quan sát i là những đại lượng không bằng nhau:
Var (Ui) # Var (Uj)  i#j. Nếu đặt Var (Ui) = σ2i  thì σ2i # σ2j . Khi đó, phương sai sai số được gọi là thay đổi, không đồng đều, không thuần nhất (heteroscedasticity hay heteroskedasticity).


Theo PGS. TS. Nguyễn Cao Văn, ThS Bùi Dương Hải, 2009, Kinh tế lượng: Hướng dẫn trả lời lý thuyết và giải bài tập, nhà xuất bản Tài Chính, Hà Nội.


Thế nào là hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong kinh tế lượng (econometrics) ?
Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011

Kinh tế lượng (Econometrics) là gì

Kinh tế lượng (econometrics)

Hiện nay chưa có một định nghĩa chính xác và chính xác về kinh tế lượng. Các nhà khoa học nghiên cứu kinh tế lượng bắt đầu từ những cách tiếp cận khác nhau, do đó có những quan niệm khác nhau về kinh tế lượng.

Kinh tế lượng (Econometrics) là gì

 Một số định nghĩa về kinh tế lượng:
  • Kinh tế lượng là việc áp dụng các kĩ thuật thống kê vào việc đánh giá, kiểm định các lý thuyết kinh tế (theo businessdictionary.com).
  • Kinh tế lượng là việc áp dụng các phương pháp thống kê và toán học trong lĩnh vực kinh tế nhằm kiểm định, đo lường các lý thuyết kinh tế và các giải pháp kinh tế (theo pitmaster.com).
  • Kinh tế lượng là bao gồm xây dựng các mô hình toán mô tả các mối quan hệ kinh tế, kiểm định sự phù hợp của các giả thuyết và ước lượng các hệ số nhằm lượng hóa các tác động của các biến độc lập (theo Dictionary of Economics).
Theo PGS. TS. Nguyễn Cao Văn, ThS Bùi Dương Hải, 2009, Kinh tế lượng: Hướng dẫn trả lời lý thuyết và giải bài tập, nhà xuất bản Tài Chính, Hà Nội.

Kinh tế lượng (Econometrics) là gì