Hiển thị các bài đăng có nhãn Ứng dụng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ứng dụng. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

Google dẫn đầu lĩnh vực 'tìm kiếm trên internet' nhờ phát triển công nghệ

Google là một công cụ tìm kiếm hàng đầu thế giới vì một lý do: công nghệ tìm kiếm của họ vô cùng “hoành tráng”. Hai người sáng lập là Larry Page và Sergey Brin đã phát triển công nghệ này và danh tiếng của họ nhanh chóng nổi như cồn cùng với thương hiệu Google.


Chiếm lấy vị trí dẫn đầu trong công nghệ
bằng cách phát triển hoặc mua lại
Google còn một sản phẩm thật kinh ngạc nữa là Google Earth. Sản phẩm này cho phép người sử dụng xem những hình ảnh chi tiết chụp từ vệ tinh cho tấ cả các vị trí trên thế giới. Thật tuyệt! Nó được các đài truyền hình Hoa Kỳ sử dụng để trình chiếu sự tàn phá sau cơn bão Katrina năm 2005. Nó cũng là nguyên nhân của nhiều tranh cãi khi một số quốc gia cho rằng công cụ này có thể giúp bọn khủng bố định vị chính xác các vị trí chiến lược của họ. Dù sao đi nữa thì sản phẩm này đã củng cố thêm cho vị trí dẫn đầu của Google trong lĩnh vực “tìm kiếm trên internet”. Có thể bạn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng Google đã không tự phát triển sản phẩm này, họ mua lại, chính xác hơn là mua lại công ty đã phát triển ra nó. 

Theo Jacky Tai, Wilson Chew. Sát thủ khác biệt hóa – 13 chiến lược khác biệt hóa để phát triển thương hiệu. Bản dịch tiếng Việt. Nhà xuất bản Trẻ. TP.HCM. 2009.

Google dẫn đầu lĩnh vực 'tìm kiếm trên internet' nhờ phát triển công nghệ
Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2012

Pepsi đã định vị thương hiệu bằng chiến lược khác biệt hóa như thế nào khi đối mặt với người dẫn đầu Coca-cola 'thứ thiệt' ?

Nói đến nước giải khát thì Coca-cola là ông vua của thế giới này. Họ đã định vị mình là “thứ thiệt” và đó là một chiến lược xây dựng thương hiệu rất hiệu quả. Coke là thương hiệu đầu tiên có mặt trên thị trường, có nghĩa là đây mới là cola nguyên thủy – thứ thiệt. Ai cũng muốn dung thứ thiệt. Nếu bạn không uống Coke thì bạn sẽ chọn gì nào?

Pepsi đã định vị thương hiệu bằng chiến lược khác biệt hóa như thế nào khi đối mặt với người dẫn đầu Coca-cola 'thứ thiệt' ?
Pepsi đã định vị thương hiệu bằng chiến lược khác biệt hóa như thế nào
khi đối mặt với người dẫn đầu Coca-cola 'thứ thiệt' ?

Nhưng Pepsi có thể minh chứng rằng sản phẩm của họ có hương vị ngon hơn. Sự thách thức của Pepsi thể hiện qua cuộc thử nghiệm hương vị kiểu “bịt mắt” (blind taste test) với sự tham gia của 800 000 người trong năm 1983. Kết quả là 60% số người tham gia thử nghiệm đã cho rằng Pepsi ngon hơn Coca-cola. Nhưng Coca-cola vẫn bán chạy hơn Pepsi. Khi xem xét chọn lựa, người ta vẫn thiên về Coke hơn, bởi vì đó là thứ thiệt. Và thứ thiệt là thứ tốt nhất, bất chấp kết quả thử nghiệm kiểu “bịt mắt” nói trên.

Khi đối mặt với một đối thủ có “thứ thiệt” này thì các công ty khác đều “bó tay” khi sử dụng chiến lược “chất lượng tốt hơn và giá rẻ hơn”. Còn sử dụng chiến lược “hiệu quả hoạt động” thì sao nhỉ? Bạn có thể làm, nếu như lĩnh vực nước giải khát này thực sự nhạy cảm với “hiệu quả”, như sản phẩm chíp trong máy tính. Nhưng thực tế thì nước giải khát không nhạy cảm với yếu tố này và khi đó, một thức uống “hiệu quả cao” cũng không thể giúp bạn khác biệt hóa.

Pepsi cần phải chiếm vị trí đối lập, nhưng điều này gây ra những thách thức lớn cho mọi phương diện. Đối lập với “thứ thiệt” là “thứ giả mạo”. Ai muốn dùng sản phẩm giả mạo?

Pepsi đã định vị thương hiệu bằng chiến lược khác biệt hóa như thế nào khi đối mặt với người dẫn đầu Coca-cola 'thứ thiệt' ?
Pepsi đã định vị thương hiệu bằng chiến lược khác biệt hóa như thế nào
khi đối mặt với người dẫn đầu Coca-cola 'thứ thiệt' ?

[…]
Hãy định vị lại đối thủ. Và chọn cho mình vị thế đối lập với họ. Có lẽ quy trình tư duy dưới đây là của Pepsi khi họ tìm đến một chiến lược khác biệt hóa từ vị thế đối lập với người dẫn đầu: 
1.      Coke là “thứ thiệt”. Chúng tôi muốn đối lập với Coke, nhưng không muốn mình là đồ giả bởi không ai muốn uống đồ giả. 
2.      Tại sao Coke là thứ thiệt? Bởi vì họ là nhãn hiệu nước giải khát cola đầu tiên có mặt trên thị trường. Đó là điều không thể chối cãi được. 
3.      Là người đầu tiên à? Tốt thôi, nhưng vẫn có một số bất lợi. Đầu tiên, đó là việc Coke đã cũ rồi, xưa lắm rồi – ra đời từ năm 1886, nghĩa là đã hơn 120 tuổi! Quá già rồi. Đừng tưởng Pepsi “còn quá trẻ” so với Coke, nhưng là người đi đầu tiên nên Coke được coi là “ông nội của nước ngọt”. 
4.      Pepsi phải thừa nhận rằng Coke là thứ thiệt. Và Pepsi sẽ đi xa hơn khi cho rằng Coke là thứ thiệt bởi vì họ là thứ quá xưa cũ. Đó là thương hiệu mà ông bà cha mẹ của bạn đã dùng. 
5.      Sau cùng, Pepsi chọn vị thế đối lập: “thứ dành cho giới trẻ”. Đây là thương hiệu của thế hệ tiếp theo. 

Điều này khiến thị trường bị phân hóa thành 2 thái cực đối lập nhau. […]
Pepsi thể hiện hình ảnh trẻ trung của họ thật tươi sáng với khẩu hiệu kèm theo “Thế hệ Pepsi”, và họ dùng những người nổi tiếng nhưng còn trẻ và sành điệu để thực hiện các chương trình truyền hình quảng cáo. […]

Hiện nay, Pepsi là thương hiệu số 2. Họ chọn vị thế đối lập và đã thành công với chiến lược khác biệt hóa này. Họ chỉ nhường lại một không gian chật chội để các đối thủ khác trong lĩnh vực cola thoi thóp thở. Coke dành cho người lớn tuổi, Pepsi dành cho giới trẻ. Vậy thì thương hiệu số 3 có thể làm gì đây?

Theo Jacky Tai, Wilson Chew. Sát thủ khác biệt hóa – 13 chiến lược khác biệt hóa để phát triển thương hiệu. Bản dịch tiếng Việt. Nhà xuất bản Trẻ. TP.HCM. 2009.

Pepsi đã định vị thương hiệu bằng chiến lược khác biệt hóa như thế nào khi đối mặt với người dẫn đầu Coca-cola 'thứ thiệt' ?
Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012

Kinh tế học : Nghịch lý về giá trị (paradox of value)

Hơn hai thế kỉ trước đây, trong tác phẩm Sự giàu có của các quốc gia, Adam Smith đã đưa ra nghịch lý về giá trị (paradox of value). Ông viết, “Không có gì hữu hình bằng nước; nhưng nó chẳng làm giảm lượng mua sắm của bất kì thứ gì, trái lại, kim cương có rất ít giá trị sử dụng; nhưng phải mất một lượng lớn nhiều hàng hóa khác mới may ra đổi được lấy nó”.
Nói cách khác, tại sao một thứ rất cần thiết cho cuộc sống như nước lại có rất ít giá trị, trong khi, kim cương vốn thường chỉ được dùng làm đồ trang sức lại đòi một mức giá quá đáng như vậy?



Nghịch lý này đã làm bận lòng Adam Smith 200 năm trước đây. Ngày nay, chúng ta biết cách giải quyết nghịch lý đó như sau: đường cung và cầu đối với nước cắt nhau ở mức giá rất thấp, trong khi cung và cầu về kim cương lại có mức giá cân bằng rất cao. Trả lời như vậy xong, tất nhiên lại đi đến một câu hỏi khác: “Nhưng tại sao cung và cầu về nước lại cắt nhau ở mức giá thấp đến thế?” Câu trả lời là kim cương là một thứ rất khan hiếm và chi phí để tìm thêm một mẫu kim cương nữa rất cao, trong khi nước tương đối phong phú hơn và ở nhiều nơi trên thế giới, nó chỉ tốn rất ít tiền.

Nhưng câu trả lời này về việc hình thành chi phí phù hợp vẫn chưa giải đáp được một sự thật không kém phần quan trọng, đó là, nước trên thế giới rõ ràng hữu ích hơn nhiều so với nguồn cung về kim cương của thế giới. Để giải quyết điều đó, khi xét đến chi phí, chúng ta phải tính đến một sự thật thứ hai: xét về tổng thể, độ thỏa dụng (còn được gọi là độ hữu dụng Utility) của nước không quyết định đến giá hoặc cầu về nó. Trái lại, giá của nước do độ thỏa dụng biên (Marginal Utility) của nó, tức là độ hữu ích của cốc nước cuối cùng, quyết định.

Vì có quá nhiều nước, cốc nước cuối cùng có giá rất thấp. Mặc dù những giọt nước đầu tiên đáng giá cả cuộc sống, những giọt nước cuối cùng lại chỉ dùng để tưới cây cỏ hay rửa xe. Vì thế chúng ta thấy rằng một hàng hóa hết sức quý báu như nước lại có giá trị gần như bằng không vì giá trị của giọt nước cuối cùng gần như bằng không.

Giống như một sinh viên đã phát triển: lý thuyết về giá trị kinh tế rất dễ hiểu nếu bạn chỉ cần nhớ rằng trong kinh tế học cái chi tiết quyết định cái tổng thể. Chính là độ thỏa dụng biên quyết định giá và lượng.

Chúng ta có thể giải quyết nghịch lý về giá trị như sau: một hàng hóa càng có nhiều thì mức độ mong muốn đối với đơn vị cuối cùng của hàng hóa đó càng ít. Vì thế thật rõ ràng là tại sao một lượng lớn nước có giá rất thấp, và tại sao những thứ cần thiết cho sự sống còn, như không khí lại là thứ cho không. Trong cả hai trường hợp, một khối lượng lớn đã đẩy độ thỏa dụng biên xuống rất thấp và do đó, làm giảm giá của những thứ sống còn này.

Theo Paul A Samuelson, Wiliam D. Nordhalls (1948), Kinh tế học, Nhà xuất bản tài chính, tái bản lần 1 (2007)
Thứ Hai, 26 tháng 9, 2011

Nguyên tắc biên trong kinh tế học và dự án nhà máy điện nguyên tử Shoreham ở Long Island Sound, New York 1989

Hãy đừng nhắc đến chuyện cũ. Đừng quay đầu nhìn lại. Đừng luyến tiếc vô vọng hay rầu rĩ về mất mát của ngày hôm qua. Hãy tính toán sát sao những chi phí gia tăng mà bạn sẽ phải chịu do bất kỳ quyết định nào và so sánh chúng với những lợi ích tăng thêm. Hãy quyết định dựa vào chi phí và lợi ích biên.

[...]

Kinh tế học trong thực tiễn: Nguyên tắc biên
Một ví dụ quan trọng về nguyên tắc biên có liên quan đến năng lượng nguyên tử. Trong những năm 1960, 1970 nhiều công ty năng lượng Mỹ đã tiến hành xây dựng các nhà máy điện nguyên tử. Vào đầu những năm 1990, người ta nghi ngờ về sự khôn ngoan của quyết định này. Cầu về năng lượng thấp hơn rất nhiều so với cầu trong dự báo và việc xây dựng, vận hành các nhà máy tốn kém hơn dự kiến rất nhiều; dầu lửa và các dạng năng lượng khác rẻ tiền hơn dự kiến, và đa số dân chúng không còn tin rằng năng lượng nguyên tử là an toàn nữa. Những thay đổi này trong môi trường kinh tế đã gây ra một vấn đề rất khó khăn cho ngành tiện ích công cộng vốn đang xây dựng các nhà máy điện nguyên tử. Có nên tiếp tục hoàn thành các nhà máy này hay thôi?

Một trường hợp đặc biệt khó khăn là nhà máy Shoreham ở Long Island Sound, New York. Đến năm 1989, với chi phí xây dựng trên 5 tỷ đôla, nhà máy đã sẵn sàng vận hành. Nhưng do dân chúng địa phương đã phản đối kịch liệt nên nó chưa được cấp giấy phép hoạt động. Những người phản đối lập luận rằng, tính cả 5 tỷ đôla đã chi, nhà máy điện nguyên tử này quá tốn kém so với các phương án thay thế khác. Còn những người ủng hộ thì đáp lại rằng, đóng cửa nhà máy có nghĩa là bỏ phí 5 tỷ đôla chi phí xây dựng.

Nhà máy điện nguyên tử Shoreham ở Long Island Sound, New York 1989

Nguyên tắc biên sẽ nói rằng cả 2 lập luận trên đều sai. Trên quan điểm kinh tế, 5 tỷ đô la chi phí quá khứ này không có liên quan gì. Vấn đế liên quan duy nhất là chi phí và lợi ích kinh tế tương lai của điện năng do Shoreham sản xuất. Các nghiên cứu cho thấy rằng nếu bỏ qua 5 tỷ đôla, chi phí tương lai để vận hành nhà máy điện nguyên tử nhỏ hơn một chút so với chi phí tương lai của phương án thay thế tốt nhất tiếp theo, mặc dù tổng chi phí (kể cả 5 tỷ đôla) thì cao hơn rất nhiều. Nếu không tính đến vấn đề an toàn, thì phân tích kinh tế kết luận rằng giải pháp hiệu quả nhất sẽ là mở cửa nhà máy điện nguyên tử Shoreham. Nhưng thực tế, cuối cùng thì nhà máy không bao giờ được mở cửa do sự phản đối của dân chúng.

Theo Paul A Samuelson, Wiliam D. Nordhalls (1948), Kinh tế học, Nhà xuất bản Tài chính, tái bản lần 1 (2007).

Nguyên tắc biên trong kinh tế học và dự án nhà máy điện nguyên tử Shoreham ở Long Island Sound, New York 1989