Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế vĩ mô. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế vĩ mô. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 19 tháng 3, 2012

Kinh tế học : Kỳ vọng và Định luật Say 'cung tạo ra cầu của chính nó' (supply creates its own demand)


Nhà kinh tế học người Pháp J. B. Say đã thừa nhận vào đầu thế kỷ 19 rằng cung tạo ra cầu của chính nó – một tuyên bố chính thức được biết đến với tên gọi định luật Say.


Say tự mình đã diễn tả ý tưởng theo cách như thế này :”[A] product is no sooner created, than it, from that instant, affords a market for other products to the full extent of its own value ” [Jean -  Baptiste Say, A Treatise on Political Economy, trans. C. R. Prinsep,ed. Clement C. Biddle (Philadelphia: Lippincott, Grambo&Co.,1855 {1803}): bk. I, chap. XV ,para. 8]. Mặc dù ý tưởng này đã được phát triển bởi các nhà kinh tế học cổ điển khác (bao gồm James Mill, David Ricardo và John Stuart Mill), thành ngữ thực tế  “cung tạo ra cầu của chính nó” (supply creates its own demand), bây giờ được biết đến như  Định luật Say, đã được đút kết sau đó – có lẽ cho đến năm 1936 bởi John Maynard Keynes, người đã tấn công ý tưởng này. Xem Keynes , The General Theory of Employment, Interest, and Money (New York: Harcourt Brace Jovanovich, 1964 [1936]), 18, 25.

Vì sản xuất tạo ra thu nhập bằng với giá trị đầy đủ của sản phẩm được bán ra, tổng thu nhập sẽ luôn luôn đủ để mua tất cả sản lượng được sản xuất. Không may là kỳ vọng tiêu cực đôi lúc xâm nhập vào vòng chu chuyển hạnh phúc của sản xuất và tiêu dùng này. Nếu các cá nhân dự kiến thời kỳ khó khăn sắp xảy ra ngay ở phía trước , họ có thể kìm lại các khoản chi tiêu của họ, bao gồm cả tiêu dùng và đầu tư, do vậy tạo ra một hố cách giữa GDP tiềm năng (cung khả thi – feasible supply) và GDP thực tế (cầu hữu hiệu – effective demand).

Kết quả là một vòng xoắn trôn ốc hướng xuống hiện rõ: vì lo lắng, người tiêu dùng quyết định tiết kiệm nhiều hơn và tiêu dùng ít đi, các hãng sa thải công nhân và giảm đầu tư mới vì họ không thể sản xuất ra những hàng hóa và dịch vụ mà họ không thể bán được; gia tăng thất nghiệp và giảm thu nhập, từ đó làm cắt giảm cầu nhiều hơn và do vậy tiếp tục làm nhấn sâu hơn vòng xoắn hướng xuống. Dù năng lực sản xuất vẫn tồn tại, sản lượng giảm vì các nguồn lực sản xuất – cả con người và máy móc thiết bị - bị rơi vào tình trạng hoạt động cầm chừng để đối phó với sự suy sụp của phía cầu. Keynes thích gọi hiện tượng này là “nghịch lý của sự nghèo đói trong sự dư thừa” (paradox of poverty in the midst of plenty).

Theo David A. Moss (2007), Hướng dẫn tóm tắt về Kinh tế học vĩ mô, được dịch bởi Châu Văn Thành (2010), Bài giảng Kinh tế vĩ mô II, trường ĐH Kinh tế TP HCM.

Kinh tế học : Kỳ vọng và Định luật Say “cung tạo ra cầu của chính nó” (supply creates its own demand)
Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2011

Kinh tế học : Điều gì làm sản lượng tăng lên hoặc giảm xuống theo quan điểm các nhà kinh tế học trọng cung?


Một nền kinh tế có thể tăng GDP bằng cách tăng tổng số giờ mỗi cá nhân làm việc (lao động), tăng số nhà máy và thiết bị sử dụng (vốn), hay bằng cách tăng hiệu quả theo cách mà vốn và lao động được sử dụng (TFP).

Các nhà kinh tế học phía cung tập trung sự chú ý của họ vào cách thức làm thế nào để tăng trưởng tất cả 3 yếu tố này, nhằm tăng tổng sản lượng tiềm năng – phía cung của nền kinh tế. Một phương pháp được ưa thích trong số “những nhà trọng cung” (supply – siders) ở Hoa Kỳ là việc cắt giảm thuế suất. Những nhà kinh tế phía cung lập luận rằng vì thuế suất thấp hơn cho phép mọi người trong khu vực tư nhân giữ được nhiều hơn những gì họ nhận được, việc giảm nhẹ thuế cung cấp cho các công dân động cơ mạnh hơn để làm việc nhiều giờ hơn (vì vậy làm tăng lao động), tiết kiệm và đầu tư nhiều hơn thu nhập của họ (vì vậy làm tăng vốn) và dành sự chú ý nhiều hơn vào cải tiến mọi thứ (vì vậy tăng tính hiệu quả, hay TFP). Vì tất cả những lý do này những nhà trọng cung ở Hoa Kỳ thường thích việc cắt giảm thuế suất như là cách tốt nhất để tạo ra tăng trưởng GDP trong dài hạn.



Điều gì làm sản lượng tăng lên hoặc giảm xuống?
Các nhà kinh tế học khác, kể cả những người bên ngoài Hoa Kỳ, đã có lúc lập luận hầu như đối nghịch hoàn toàn – rằng đầu tư được dẫn dắt bởi chính phủ (ví dụ vào cơ sở hạ tầng công cộng, giáo dục và R&D) có thể là cách tốt nhất để xây dựng trữ lượng vốn, tăng cường lực lượng lao động, và thúc đẩy cải tiến và vì vậy là cách tốt nhất để xây dựng trữ lượng vốn, tăng cường lực lượng lao động và thúc đẩy cải tiến và vì vậy là cách tốt nhất để đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Mặc dù họ cũng tập trung vào phía cung, nhưng họ có khái niệm rất khác về việc sử dụng tối ưu chính sách công trong việc đẩy mạnh sản lượng tiềm năng (cung).

Theo Châu Văn Thành, Ngô Hoàng Thảo Trang (2010). Bài giảng Kinh tế vĩ mô II: Lý thuyết và thảo luận chính sách. Trường ĐH Kinh tế TP. HCM.

Kinh tế học : Điều gì làm sản lượng tăng lên hoặc giảm xuống theo quan điểm các nhà kinh tế học trọng cung?
Thứ Hai, 18 tháng 7, 2011

Kinh tế học : Nguyên nhân gây ra lạm phát theo quan điểm các nhà kinh tế thuộc trường phái tiền tệ

Khi đề cập mối quan hệ giữa tiền tệ và lạm phát, Friedman cho rằng “lạm phát luôn luôn và bất cứ ở đâu đều là hiện tượng tiền tệ” (Inflation is always and everywhere a monetary phenomenon). Khi đó lạm phát được định nghĩa là một sự tăng giá nhanh và liên tục. Hầu hết các nhà kinh tế thuộc trường phái tiền tệ, hoặc trường phái Keynes cũng đồng ý với nhận định của Friedman.

Quan điểm các nhà thuộc trường phái tiền tệ:
Trước hết, bằng việc sử dụng phân tích của các nhà kinh tế tiền tệ, chúng ta hãy xem kết quả gia tăng cung tiền tệ liên tục được minh họa ở bên dưới.
Phản ứng giá cả đối với sự gia tăng tiền tệ liên tục
 Khởi đầu nền kinh tế cân bằng ở điểm 1 (giao giữa AD1 và AS1). Nếu cung tiền gia tăng qua mỗi năm, làm cho tổng cầu dịch chuyển sang phải đến AD2. Khi đó nền kinh tế tiến đến cân bằng ở điểm 1’ với đặc điểm: sản lượng gia tăng, thất nghiệp giảm.Thế nhưng, với sự mở rộng sản xuất đến lượt nó sẽ làm gia tăng chi phí. Và đường AD2 sẽ lập tức di chuyển qua trái, cắt đường AS2 tạo ra điểm cân bằng mới ở điểm 2, với mức giá gia tăng từ P1>P2. Cứ như vậy, nếu cung tiền cứ gia tăng thì mức giá gia tăng và lạm phát xảy ra. Nghĩa là M tăng lên à P tăng lên. Trong phân tích cùa các nhà kinh tế tiền tệ, cung tiền được xem như là nguồn duy nhất làm dịch chuyển đường cầu AD, không có yếu tố khác làm di chuyển nền kinh tế từ điểm 1 đến 2 và 3 và hơn nữa. 

Theo PGS-TS. Sử Đình Thành, TS. Vũ Thị Minh Hằng, Gs-TS. Dương Thị Bình Minh, Ths. Phạm Văn Hiếu, Ths. Nguyễn Anh Tuấn, TS. Bùi Thị Mai Hoài, TS. Diệp Gia Luật. 2008. Nhập môn tài chính tiền tệ. Nhà xuất bản Lao Động Xã Hội. Hà Nội.

Kinh tế học : Nguyên nhân gây ra lạm phát theo quan điểm các nhà kinh tế thuộc trường phái tiền tệ 
Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2011

dau tu la gi


Khái niệm đầu tư đôi khi gây ra sự lẫn lộn đối với những người mới tiếp xúc với môn kinh tế vĩ mô. Sự lẫn lộn nảy sinh vì cái có vẻ là đầu tư của cá nhân lại không phải là đầu tư của nền kinh tế với tư cách là một tổng thể.

Giả sử chúng ta quan sát thấy hai sự kiện sau đây:
§  Ông Smith mua một căn nhà xây dựng 100 năm trước đây ở đại lộ Victoria
§  Bà Jones xây dựng một ngôi nhà hiện đại mới toanh.
     Tổng đầu tư ở đây là bao nhiêu? Một ngôi nhà, hai ngôi nhà hay không có ngôi nhà nào cả?

Khi quan sát 2 giao dịch này, các nhà kinh tế vĩ mô chỉ tính ngôi nhà của bà Jones vào đầu tư. Giao dịch của ông Smith không tạo ra ngôi nhà mới cho nền kinh tế, nó chỉ tái phân phối ngôi nhà hiện có. Việc mua nhà của ông Smith là đầu tư đối với ông Smith, nhưng lại là sự cắt giảm đầu tư của người  bán ngôi nhà. Ngược lại, bà Jones đã bổ sung thêm một ngôi nhà mới cho nền kinh tế, ngôi nhà mới của bà được gọi là đầu tư.

    Tương tự như vậy, chúng ta hãy xem xét 2 sự kiện sau:
·        Merill mua của Lynch 5 triệu đôla cổ phiếu IBM trên thị trường chứng khoán Lynch Niu Oóc
·        General Motor bán 10 triệu đôla cổ phiếu cho công chúng và sử dụng số tiền đó để xây dựng một nhà máy ôtô mới.
Ở đây, đầu tư là 10 triệu đôla. Trong giao dịch thứ nhất, Merill đầu tư vào cổ phiếu IBM, còn Lynch giảm đầu tư, không có sự đầu tư nào trong nền kinh tế cả. Ngược lại, General Motor sử dụng một phần sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế để bổ sung vào khối lượng tư bản của mình; bởi vậy nhà máy mới của nó được coi là đầu tư.

Quy tắc chung la những  hành vi mà chỉ tái phân phối tài sản hiện có giữa các cá nhân không được coi là đầu tư với nền kinh tế. Khái niệm đầu tư trong kinh tế vĩ mô gắn với việc tạo ra tư bản mới.

dau tu la gi


Khái niệm đầu tư đôi khi gây ra sự lẫn lộn đối với những người mới tiếp xúc với môn kinh tế vĩ mô. Sự lẫn lộn nảy sinh vì cái có vẻ là đầu tư của cá nhân lại không phải là đầu tư của nền kinh tế với tư cách là một tổng thể.

Giả sử chúng ta quan sát thấy hai sự kiện sau đây:
§  Ông Smith mua một căn nhà xây dựng 100 năm trước đây ở đại lộ Victoria
§  Bà Jones xây dựng một ngôi nhà hiện đại mới toanh.
     Tổng đầu tư ở đây là bao nhiêu? Một ngôi nhà, hai ngôi nhà hay không có ngôi nhà nào cả?

Khi quan sát 2 giao dịch này, các nhà kinh tế vĩ mô chỉ tính ngôi nhà của bà Jones vào đầu tư. Giao dịch của ông Smith không tạo ra ngôi nhà mới cho nền kinh tế, nó chỉ tái phân phối ngôi nhà hiện có. Việc mua nhà của ông Smith là đầu tư đối với ông Smith, nhưng lại là sự cắt giảm đầu tư của người  bán ngôi nhà. Ngược lại, bà Jones đã bổ sung thêm một ngôi nhà mới cho nền kinh tế, ngôi nhà mới của bà được gọi là đầu tư.

    Tương tự như vậy, chúng ta hãy xem xét 2 sự kiện sau:
·        Merill mua của Lynch 5 triệu đôla cổ phiếu IBM trên thị trường chứng khoán Lynch Niu Oóc
·        General Motor bán 10 triệu đôla cổ phiếu cho công chúng và sử dụng số tiền đó để xây dựng một nhà máy ôtô mới.
Ở đây, đầu tư là 10 triệu đôla. Trong giao dịch thứ nhất, Merill đầu tư vào cổ phiếu IBM, còn Lynch giảm đầu tư, không có sự đầu tư nào trong nền kinh tế cả. Ngược lại, General Motor sử dụng một phần sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế để bổ sung vào khối lượng tư bản của mình; bởi vậy nhà máy mới của nó được coi là đầu tư.

Quy tắc chung la những  hành vi mà chỉ tái phân phối tài sản hiện có giữa các cá nhân không được coi là đầu tư với nền kinh tế. Khái niệm đầu tư trong kinh tế vĩ mô gắn với việc tạo ra tư bản mới.
Thứ Tư, 13 tháng 4, 2011

Kinh tế học : Tại sao cần nghiên cứu kinh tế vĩ mô ?


Để đánh giá đúng tầm quan trọng của kinh tế vĩ mô, bạn chỉ cần đọc báo và nghe đài. Các phương tiện truyền thông đại chúng hàng ngày thông tin về chiều hướng phát triển của nền kinh tế. Những tiêu đề in đậm trên trang nhất như THU NHẬP CÁ NHÂN TĂNG BỐN PHẦN TRĂM, QUỸ DỰ TRỮ LIÊN BANG CHUYỂN SANG CHỐNG LẠM PHÁT, hoặc CỔ PHIẾU GIẢM DO MỌI NGƯỜI LO SỢ TÌNH TRẠNG SUY THOÁI... hầu như không ngày nào không xuất hiện trên báo chí.

Tất cả các biến số kinh tế vĩ mô đều đụng chạm đến cuộc sống của chúng ta. Khi dự báo nhu cầu sản phẩm của chính mình, hội đồng quản trị ở các doanh nghiệp phải đoán xem thu nhập của người tiêu dùng tăng nhanh đến mức nào. Người già sống bằng thu nhập cố định thường băn khoăn về tốc độ tăng giá. Những công nhân thất nghiệp đang tìm kiếm việc làm hi vọng nền kinh tế phục hồi và các doanh nghiệp tuyển thêm người. Tất cả chúng ta đều bị ảnh hưởng bởi thực trạng của nền kinh tế.


 Điều dễ hiểu là biến cố kinh tế vĩ mô đóng vai trò trung tâm trong các cuộc tranh luận chính trị. Vào những năm 70, tổng thống Nixon, Ford, Carter, tất cả đều vật lộn một cách vô vọng với tình hình lạm phát ngày càng leo thang. Năm 1993, tổng thống Clinton chuyển đến văn phòng bầu dục với lời cam kết cắt giảm thâm hụt ngân sách và thúc đầy tăng trường kinh tế. Uy tính của vị tổng thống đương nhiệm tăng trong giai đoạn phục hồi kinh tế và giảm trong thời kỳ suy thoái. Cử tri hiểu rõ ý nghĩa của các biến cố kinh tế vĩ mô, còn các nhà chính trị ý thức rõ tầm quan trọng của chính sách kinh tế vĩ mô.

Ảnh hưởng của các biến cố kinh tế đối với chính trị biểu hiện rõ nét nhất trong những cuộc bầu cử tổng thống. Chính sách kinh tế là chủ đề hàng đầu trong cuộc tranh luận giữa các ứng cử viên và thực trạng của nền kinh tế có ảnh hưởng mạnh mẽ tới kết quả bầu cử. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1992, chiến lược gia chủ yếu của Clinton muốn hướng cuộc vận động tranh cử vào một vấn đề then chốt. Trong phòng làm viêc của mình, ông vung tay lên như muốn nói: “Nền kinh tế ư, thật ngu xuẩn!”.
Các sự kiện kinh tế cũng đóng vai trò chủ đạo trong mối quan hệ quốc tế. Vào những năm 50 và 60, hầu hết các nước công nghiệp đều duy trì tỷ giá hối đoái cố định giữa đồng tiền của họ với nhau và với đồng tiền của các nước khác. Hệ thống tỷ giá hối đoái này sụp đổ vào những năm 70 và thời đại mới của chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt, biến động mạnh bắt đầu. Trong những năm 80 và 90, nước Mỹ nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu và thanh toán cho số hàng nhập khẩu dôi ra này bằng cách vay rất nhiều trên thị trường tai tài chính thế giới. Những xu hướng kinh tế quốc tế như vậy thường là nguồn gốc gây căng thẳng, ngay cả giữa những đồng minh thân cận nhất.

Các nhà kinh tế vĩ mô là những nhà khoa học tìm cách lý giải hoạt động của nền kinh tế với tư cách một tổng thể. Họ thu thập số liệu về thu nhập, giá cả và nhiều biến số kinh tế khác từ các thời kỳ và quốc gia khác nhau. Sau đó họ tìm cách xây dựng những lý thuyết tổng quát, góp phần giải thích các số liệu này.

Cũng giống như nhà thiên văn nghiên cứu quá trình tiến hóa của các vì sao và nhà sinh vật nghiên cứu quá trình tiến hóa của các loài, nhà kinh tế vĩ mô không thể tiến hành cá thực nghiệm có kiểm soát - thực nghiệm với nền kinh tế là một việc làm quá tốn kém. Thay vào đó, họ dựa trên những thực nghiệm tự nhiên. Các nhà kinh tế vĩ mô quan sát thấy rằng các nền kinh tế có nhiều nét khác nhau và chúng dều thay dổi theo thời gian. Kết quả quan sát vừa tạo ra động lực để phát triển các lí thuyết kinh tế vĩ mô, vừa cung cấp số liệu để kiểm định chúng.

Chắc chắn kinh tế vĩ mô là một ngành khoa học non trẻ và chưa hoàn chỉnh. Khả năng dự báo của các kinh tế vĩ mô về đường hướng phát triển tương lai của các sự kiện kinh tế chưa vượt quá khả năng của các nhà khí tượng khi họ dự báo về thời tiết tháng tới. Song, như các bạn sẽ thấy, chúng ta biết khá nhiều về phương thức hoạt động của nền kinh tế.

Mục tiêu của chúng ta trong việc nghiên cứu kinh tế vĩ mô không phải chỉ dừng lại ở phạm vi lí giải các biến cố kinh tế, mà còn nhằm cải thiện chất lượng của chính sách kinh tế. Các công cụ tài chính và tiền tệ của chính phủ có thể tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế - bao gồm cả mặt tích cực và tiêu cực – và khoa kinh tế vĩ mô giúp cho các nhà hoạch định chính sách đánh giá những chính sách khác nhau. Nhà kinh tế vĩ mô phải nghiên cứu nền kinh tế như nó đang tồn tại và suy ngẫm xem chúng ta nên làm gì để cải thiện nó.

Theo N. Gregory Mankiw, Kinh tế vĩ mô, bản dịch tiếng Việt, nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội.

Kinh tế học : Tại sao phải nghiên cứu kinh tế vĩ mô ?

Thứ Ba, 12 tháng 4, 2011

Kinh tế học : Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (nominal exchange rate) là gì?

Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (nominal exchange rate) là giá tương đối của đồng tiền của hai nước.
Tỷ giá hối đoái thực (real exchange rate) hay còn được gọi là tỷ giá ngoại thương là giá tương đối của hàng hóa của hai nước. Tỷ giá này cho biết tỷ lệ mà tại đó chúng ta có thể trao đổi hàng hóa của một nước này với hàng hóa của một nước khác nước khác.

Kinh tế học : Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (nominal exchange rate) là gì?

Kinh tế học : Vai trò của kinh tế vi mô trong kinh tế vĩ mô



Kinh tế vi mô, một bộ phận nghiên cứu nền kinh tế trong phạm vi nhỏ, nghiên cứu hành vi của những đơn vị cá biệt trong nền kinh tế. Kinh tế vi mô nghiên cứu phương thức ra quyết định của các hộ gia đình và doanh nghiệp, cũng như tác động qua lại giữa họ trên thị trường. Nguyên tắc cơ bản nhất của kinh tế vi mô là các hộ gia đình và doanh nghiệp ‘tối ưu hóa’ tức họ tìm cách hành động hợp lý đến mức cho phép để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện phải đối phó với những giới hạn nhất định. Trong mô hình kinh tế vi mô, các hộ gia đình ra quyết định mua hàng sao cho tối đa hóa được mức độ thỏa mãn của mình – điều mà các nhà kinh tế gọi là lợi ích – và các doanh nghiệp đưa ra quyết định sản xuất nhằm tối đa hóa lợi nhuận.

Vì các biến cố kinh tế mà các nhà kinh tế vĩ mô nghiên cứu phát sinh từ tác động qua lại giữa nhiều hộ gia đình và doanh nghiệp, nên kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô gắn bó chặt chẽ với nhau. Khi nghiên cứu nền kinh tế với tư cách một tổng thể, chúng ta phải xem xét quyết định của các chủ thể cá biệt. Ví dụ, để hiểu được yếu tố nào quyết định tổng mức chi tiêu của người tiêu dùng, chúng ta phải suy nghĩ về cách thức một gia đình quyết định mức chi tiêu hiện tại và tiết kiệm bao nhiêu cho tương lai. Để hiểu được yếu tố nào quyết định tổng chi tiêu cho đầu tư, chúng ta phải nghĩ về cách thức một doanh nghiệp quyết định có nên xây dựng một nhà máy mới hay không. Do các biến số tổng hợp chỉ là tổng các biến số mô tả các quyết định cá biệt, cho nên kinh tế vĩ mô đương nhiên phải được xây dựng trên cơ sở kinh tế vi mô.

Mặc dù các quyết định kinh tế vi mô luôn luôn là cơ sở cho các mô hình kinh tế, nhưng trong nhiều mô hình, hành vi tối ưu hóa của các hộ gia đình và doanh nghiệp chỉ mang tính ngầm định, chứ không thể hiện một cách rõ ràng. Mô hình về thị trường bánh mì: quyết định của các hộ gia đình về việc nên mua bao nhiêu bánh mì là cơ sở cho mức cầu về bánh mì, còn quyết định của những người sản xuất bánh mì về việc nên sản xuất bao nhiêu bánh mì là cơ sở cho mức cung về bánh mì. Theo giả định, các hộ gia đình đưa ra quyết định để tối ưu hóa lợi ích, còn người sản xuất bánh mì đưa ra quyết định để tối đa hóa lợi nhuận. Nhưng mô hình không tập trung nghiên cứu những quyết định kinh tế vi mô này. Tương tự như vậy, trong nhiều công trình nghiên cứu của kinh tế vĩ mô, hành vi tối ưu hóa của các hộ gia đình và doanh nghiệp chỉ có tính chất ngầm định.

Theo N. Gregory Mankiw, Kinh tế vĩ mô, bản dịch tiếng Việt, nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội.

Kinh tế học : Vai trò của kinh tế vi mô trong kinh tế vĩ mô